“NHỮNG THAY ĐỔI TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2026”: CẬP NHẬT THÔNG TIN VỀ CÁC THAY ĐỔI TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ caTUỆ VÀ CÁCH BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI SÁNG TẠO.
Từ ngày 01/4/2026, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT sửa đổi 2025) chính thức có hiệu lực thi hành. Đây là bước hoàn thiện quan trọng của khung pháp lý Việt Nam, chuyển dịch từ “bảo vệ quyền” sang “tài sản hóa, thương mại hóa và khai thác hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ” trong bối cảnh kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI) và hội nhập quốc tế.

1. Tổng quan về Luật Sở hữu trí tuệ
Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006) là văn bản pháp luật cốt lõi, toàn diện nhất quy định về việc xác lập, bảo hộ, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam.
Căn cứ trực tiếp tại Điều 1 Luật SHTT 2005: “Luật này quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó.”
Luật được xây dựng theo cấu trúc 6 phần chính (theo văn bản hợp nhất hiện hành), bao quát đầy đủ các khía cạnh từ quy định chung đến quản lý nhà nước:
- Phần thứ nhất: Những quy định chung (Điều 1 đến Điều 12) – quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, đối tượng quyền SHTT, giải thích từ ngữ, áp dụng pháp luật, căn cứ phát sinh quyền…
- Phần thứ hai: Quyền tác giả và quyền liên quan – bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng, đài truyền hình…
- Phần thứ ba: Quyền sở hữu công nghiệp – bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý.
- Phần thứ tư: Quyền đối với giống cây trồng.
- Phần thứ năm: Bảo vệ quyền SHTT – quy định xử lý vi phạm bằng biện pháp dân sự, hành chính và hình sự.
- Phần thứ sáu: Quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và hợp tác quốc tế.
Bản chất pháp lý của quyền SHTT được quy định rõ tại khoản 1 Điều 4 Luật SHTT 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung): “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.”
Đây là quyền dân sự thuần túy. Theo Điều 5 Luật SHTT 2005: “Trong trường hợp có những vấn đề dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ không được quy định trong Luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.” Quyền SHTT gắn liền với người sáng tạo (tác giả, chủ sở hữu), phát sinh tự động hoặc qua thủ tục đăng ký, nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế tri thức.
Căn cứ phát sinh và xác lập quyền được quy định tại Điều 6 Luật SHTT 2005:
- Quyền tác giả phát sinh ngay từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định (không cần đăng ký).
- Quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng được xác lập thông qua việc cấp văn bằng bảo hộ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cục Sở hữu trí tuệ).
Luật đã được sửa đổi, bổ sung 04 lần để phù hợp với các cam kết quốc tế và nhu cầu thực tiễn:
- Luật số 36/2009/QH12 (hiệu lực 01/01/2010);
- Luật số 42/2019/QH14 (hiệu lực 01/11/2019);
- Luật số 07/2022/QH15 (hiệu lực 01/01/2023);
- Và đặc biệt là Luật số 131/2025/QH15(sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT 2005) sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.
2. Những điểm mới của Luật sở hữu trí tuệ

Luật sửa đổi 2025 (số 131/2025/QH15) sửa đổi, bổ sung khoảng 71 điều, bãi bỏ 8 điều, tập trung vào 4 nhóm nội dung chính:
- Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện: Rút ngắn thời gian xử lý đơn, đơn giản hóa thủ tục, áp dụng công nghệ số và AI trong quản lý SHTT.
- Thúc đẩy khai thác, thương mại hóa quyền SHTT: Xem SHTT là tài sản vô hình có thể định giá, góp vốn, thế chấp vay vốn.
- Bảo hộ đối tượng mới và xử lý vấn đề phát sinh: Quy định rõ về AI, nền tảng số, dữ liệu.
- Nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền: Tăng cường trách nhiệm của nền tảng trung gian, nâng mức bồi thường thiệt hại.
Các điểm mới nổi bật (hiệu lực từ 01/4/2026):
| Nội dung | Thay đổi cụ thể | Căn cứ |
| Rút ngắn thời gian xử lý đơn | – Sáng chế: thẩm định nội dung từ 18 tháng → 12 tháng – Nhãn hiệu: từ 9 tháng → 5 tháng – Kiểu dáng công nghiệp: từ 7 tháng → 5 tháng – Công bố đơn: từ 2 tháng → 1 tháng – Có cơ chế xét xử nhanh trong 3 tháng | Điều 1 Luật 131/2025/QH15 |
| Tài sản hóa quyền SHTT | Bổ sung Điều 8a: Nhà nước khuyến khích sử dụng quyền SHTT để góp vốn, thế chấp vay vốn theo pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng. Doanh nghiệp phải lập danh mục nội bộ quyền SHTT. | Điều 8a |
| Quy định về AI | – AI không phải là chủ thể quyền SHTT.
– Chính phủ quy định chi tiết việc xác lập quyền đối với sản phẩm do AI tạo ra (phải có yếu tố sáng tạo thực chất của con người). – Cho phép sử dụng văn bản, dữ liệu đã công bố hợp pháp để nghiên cứu, huấn luyện AI mà không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền tác giả/chủ sở hữu. |
Khoản 5 Điều 6 |
| Bảo hộ trên nền tảng số | Bổ sung Điều 198b: Chủ quản nền tảng số, dịch vụ trung gian phải thực hiện biện pháp bảo vệ quyền SHTT (ngăn chặn, gỡ bỏ nội dung xâm phạm, chặn truy cập). | Điều 198b |
| Mở rộng đối tượng bảo hộ | – Kiểu dáng công nghiệp bao gồm cả sản phẩm phi vật chất (GUI, icon…). – Bảo hộ tín hiệu cáp mã hóa mang chương trình. | Các điều liên quan quyền sở hữu công nghiệp và quyền liên quan |
| Khác | – Tăng mức bồi thường thiệt hại dân sự. – Hỗ trợ tài chính, thuế cho hoạt động SHTT. – Chuyển đổi số toàn diện hoạt động quản lý nhà nước về SHTT. | Toàn bộ Luật 131/2025/QH15 |
3. Các thay đổi quan trọng và tác động đến người sáng tạo và doanh nghiệp trong Luật Sở hữu trí tuệ

Luật số 131/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2005) mang lại nhiều thay đổi thiết thực, tác động trực tiếp đến người sáng tạo (tác giả, nhà thiết kế, nhà khoa học, nghệ sĩ) và doanh nghiệp. Dưới đây là phân tích chi tiết từng nhóm, kèm căn cứ pháp lý cụ thể:
Đối với người sáng tạo (tác giả, nhà thiết kế, nhà khoa học, nghệ sĩ):
- Nhanh chóng xác lập quyền: Thời gian cấp văn bằng được rút ngắn đáng kể, giúp người sáng tạo sớm có “lá chắn pháp lý” để khai thác thương mại và tránh tình trạng ý tưởng bị sao chép trước khi đăng ký. Cụ thể:
- Thẩm định nội dung đơn sáng chế: từ 18 tháng xuống còn 12 tháng.
- Đơn nhãn hiệu: từ 9 tháng xuống còn 5 tháng.
- Đơn kiểu dáng công nghiệp: từ 7 tháng xuống còn 5 tháng.
- Công bố đơn: từ 2 tháng xuống còn 1 tháng.
- Bổ sung cơ chế xét xử nhanh (fast-track) trong 3 tháng. Căn cứ: Các quy định sửa đổi tại khoản 23, 31 Điều 1 Luật 131/2025/QH15 (sửa đổi Điều 89, Điều 100 Luật Sở hữu trí tuệ 2005).
- Bảo vệ trên môi trường số: Chủ quản nền tảng số (Facebook, TikTok, YouTube, Shopee, v.v.) phải chịu trách nhiệm pháp lý chủ động thực hiện biện pháp bảo vệ quyền SHTT, bao gồm ngăn chặn, gỡ bỏ nội dung xâm phạm và chặn truy cập. Điều này giúp giảm đáng kể thiệt hại do sao chép trực tuyến. Căn cứ: Điều 198b (mới) được bổ sung bởi Luật 131/2025/QH15: “Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số phải triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, an ninh mạng”.
- Quyền với sản phẩm AI: Người sáng tạo vẫn là chủ thể quyền duy nhất nếu họ kiểm soát, chỉnh sửa và đóng góp yếu tố sáng tạo thực chất của con người. AI không phải là chủ thể quyền SHTT. Việc sử dụng văn bản, dữ liệu đã công bố hợp pháp để nghiên cứu, huấn luyện AI được cho phép (ngoại lệ TDM – text and data mining), miễn là không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền của tác giả/chủ sở hữu. Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xác lập quyền đối với sản phẩm do AI hỗ trợ tạo ra. Căn cứ: Khoản 5 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản tương ứng của Luật 131/2025/QH15; đồng thời bổ sung ngoại lệ tại khoản 5 Điều 7 (sử dụng dữ liệu huấn luyện AI).
-
- Tăng giá trị kinh tế: Quyền SHTT được coi là tài sản vô hình có thể định giá, góp vốn, thế chấp vay vốn ngân hàng, từ đó mở ra kênh huy động vốn mới để người sáng tạo phát triển sản phẩm. Căn cứ: Điều 8a (mới) được bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Luật 131/2025/QH15: Nhà nước khuyến khích sử dụng quyền SHTT để góp vốn, thế chấp vay vốn theo pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng; doanh nghiệp phải lập danh mục nội bộ quyền SHTT.
Đối với doanh nghiệp:

- Tài sản vô hình trở thành tài sản tài chính: Quyền SHTT có thể thế chấp vay vốn ngân hàng, góp vốn liên doanh, đưa vào báo cáo tài chính, giúp tăng khả năng tiếp cận vốn – đặc biệt hữu ích với startup công nghệ và doanh nghiệp có sáng chế. Căn cứ: Điều 8a (như nêu trên).
- Thủ tục nhanh, chi phí thấp hơn: Thời gian xử lý đơn rút ngắn kết hợp chuyển đổi số toàn diện giúp doanh nghiệp dễ dàng đăng ký, quản lý danh mục SHTT. Căn cứ: Các quy định sửa đổi về thủ tục hành chính và chuyển đổi số tại Điều 11b, Điều 89, Điều 100 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi Luật 131/2025/QH15).
- Rủi ro pháp lý rõ ràng hơn: Doanh nghiệp phải lập danh mục nội bộ quyền SHTT; đồng thời nền tảng số chịu trách nhiệm gỡ bỏ vi phạm → doanh nghiệp dễ bảo vệ nhãn hiệu, sáng chế trên môi trường trực tuyến. Căn cứ: Điều 8a và Điều 198b (như trên).
- Cơ hội thương mại hóa: Thị trường giao dịch quyền SHTT (sàn giao dịch, định giá, môi giới) sẽ phát triển mạnh mẽ nhờ khung pháp lý hoàn thiện. Căn cứ: Các quy định về khai thác, thương mại hóa quyền SHTT tại Điều 8a và toàn bộ nhóm nội dung thúc đẩy khai thác thương mại của Luật 131/2025/QH15.
Tổng thể, Luật tạo động lực mạnh mẽ cho đổi mới sáng tạo quốc gia, chuyển SHTT từ “quyền pháp lý” thuần túy thành “nguồn lực kinh tế” thực sự, góp phần thúc đẩy kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.
4. Một số lưu ý quan trọng
Để tận dụng tối đa các quy định mới và bảo vệ hiệu quả quyền lợi, người sáng tạo và doanh nghiệp cần chú ý những nội dung sau (căn cứ trực tiếp từ Luật 131/2025/QH15):
- Đăng ký kịp thời: Đơn nộp từ ngày 01/4/2026 trở đi áp dụng quy định mới (thời gian ngắn hơn). Đơn cũ tiếp tục xử lý theo luật cũ, trừ một số ngoại lệ chuyển tiếp do Chính phủ quy định. Căn cứ: Quy định chuyển tiếp của Luật 131/2025/QH15.
- Xác định rõ vai trò con người trong AI: Khi sử dụng AI hỗ trợ sáng tạo, phải lưu giữ bằng chứng (prompt, file chỉnh sửa, quy trình sáng tạo) để chứng minh yếu tố sáng tạo thực chất của con người, tránh rủi ro bị từ chối bảo hộ. Căn cứ: Khoản 5 Điều 6 (sửa đổi) và quy định chi tiết của Chính phủ về xác lập quyền đối với sản phẩm AI.
- Quản trị nội bộ SHTT: Doanh nghiệp phải xây dựng danh mục quyền SHTT nội bộ, định kỳ đánh giá hiệu lực, gia hạn đúng hạn. Căn cứ: Điều 8a (mới).
- Sử dụng SHTT làm tài sản: Khi góp vốn hoặc thế chấp cần định giá độc lập (theo quy định pháp luật về định giá tài sản), chuẩn bị đầy đủ hồ sơ (văn bằng, hợp đồng chuyển nhượng, giấy chứng nhận đăng ký…). Căn cứ: Điều 8a và các quy định liên quan về góp vốn, thế chấp tài sản vô hình.
- Giám sát và xử lý vi phạm:
- Theo dõi nền tảng số và yêu cầu gỡ bỏ nội dung xâm phạm theo Điều 198b.
- Sử dụng biện pháp dân sự (yêu cầu bồi thường – mức tối đa theo luật định được nâng lên), hành chính hoặc hình sự khi cần. Căn cứ: Điều 198b và các quy định về xử lý vi phạm (sửa đổi tại Phần thứ năm Luật Sở hữu trí tuệ).
- Tuân thủ giới hạn quyền: Không lạm dụng quyền SHTT gây thiệt hại đến lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh quốc gia. Căn cứ: Khoản 2 Điều 4 và các quy định về giới hạn quyền (sửa đổi).
Cách bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo cụ thể (áp dụng ngay từ giai đoạn hiện tại và sau 01/4/2026):
- Bước 1: Xác lập quyền (đăng ký bản quyền tác giả, văn bằng sở hữu công nghiệp).
- Bước 2: Lưu trữ chứng cứ sáng tạo (bản nháp, file gốc, ngày tháng, prompt AI nếu có).
- Bước 3: Giám sát thị trường và không gian mạng.
- Bước 4: Sử dụng hợp đồng chuyển nhượng, cấp phép rõ ràng (ghi nhận đầy đủ quyền nhân thân và quyền tài sản).
- Bước 5: Khi bị vi phạm → gửi khiếu nại đến nền tảng (Điều 198b) hoặc cơ quan nhà nước → khởi kiện dân sự/hành chính nếu cần.
Trên đây là những thông tin được Văn phòng Luật sư Đà Nẵng tổng hợp và tham khảo từ các nguồn quy định pháp luật, chính sách và tài liệu liên quan, nhằm giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quan về việc tổ chức lại doanh nghiệp và các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp.
Trong trường hợp Quý khách còn vướng mắc hoặc cần được tư vấn cụ thể về thủ tục khác như đăng ký doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp, thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp hoặc các vấn đề pháp lý liên quan, vui lòng liên hệ Văn phòng Luật sư Đà Nẵng qua số điện thoại 0912 987 103 hoặc đặt lịch làm việc trực tiếp tại 24 Phan Bội Châu, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Ngoài ra, đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý của chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ Quý khách trong các dịch vụ liên quan tới doanh nghiệp – đầu tư dưới đây:
- Tư vấn thay đổi tên doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, vốn điều lệ…;
- Hỗ trợ soạn thảo hồ sơ thông báo thay đổi giấy phép kinh doanh;
- Hỗ trợ doanh nghiệp nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền;
- Tư vấn các thủ tục sau khi thay đổi;
- Tư vấn thường xuyên các hoạt động doanh nghiệp;
…….