BẠO HÀNH TRẺ EM BỊ PHẠT BAO NHIÊU? QUY ĐỊNH XỬ LÝ HÌNH SỰ VÀ XỬ LÝ HÀNH CHÍNH THEO LUẬT TRẺ EM 2016

Bạo hành trẻ em là một trong những vấn đề nghiêm trọng và gây nhiều bức xúc trong xã hội hiện nay. Không chỉ gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần và sự phát triển toàn diện của trẻ em, hành vi bạo lực còn để lại hậu quả tâm lý kéo dài, ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách và cuộc sống của trẻ về sau.
Trong nhiều vụ việc, hành vi bạo hành không chỉ xảy ra trong gia đình mà còn xuất hiện tại trường học, cơ sở nuôi dưỡng, nhóm trẻ tư nhân hoặc trong môi trường lao động, chăm sóc trẻ em. Đáng chú ý, không ít trường hợp hành vi bạo lực kéo dài trong thời gian dài nhưng không được phát hiện hoặc không được can thiệp kịp thời.
Hiện nay, Luật Trẻ em 2016 là văn bản pháp lý cốt lõi quy định về quyền trẻ em, nguyên tắc bảo vệ trẻ em và trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi xâm hại trẻ em.
Qua bài viết dưới đây, Văn phòng Luật sư Đà Nẵng sẽ tổng hợp và phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hành vi bạo hành trẻ em theo Luật Trẻ em 2016, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 và các nghị định xử phạt liên quan; đồng thời làm rõ mức xử phạt cũng như những lưu ý pháp lý quan trọng mà phụ huynh, giáo viên và cá nhân, tổ chức có liên quan cần đặc biệt lưu ý.
1. Bạo hành trẻ em là gì theo quy định pháp luật?
Theo khoản 6 Điều 4 Luật Trẻ em 2016, bạo hành trẻ em được hiểu là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập, xâm hại thân thể hoặc thực hiện các hành vi khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần, danh dự và nhân phẩm của trẻ em.

Quy định này cho thấy hành vi bạo hành trẻ em không chỉ giới hạn ở việc đánh đập hay gây thương tích mà còn bao gồm nhiều hành vi xâm hại tinh thần, xúc phạm nhân phẩm hoặc bỏ mặc trẻ em trong thời gian dài.
Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 4 Luật này cũng xác định “Xâm hại trẻ em” bao gồm hành vi bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc và các hình thức gây tổn hại khác đối với trẻ em.
Đồng thời, khoản 3 Điều 6 Luật Trẻ em 2016 nghiêm cấm tuyệt đối các hành vi:
- Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em;
- Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em;
- Mua bán, bắt cóc, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.
Như vậy, mọi hành vi gây tổn hại về thể chất hoặc tinh thần đối với trẻ em đều có thể bị xem xét xử lý theo quy định pháp luật, kể cả trong trường hợp người thực hiện hành vi là cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ em.
2. Các hình thức bạo hành trẻ em phổ biến hiện nay
Trên thực tế, hành vi bạo hành trẻ em có thể xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau và không phải lúc nào cũng dễ nhận biết. Nhiều trường hợp bạo lực được che giấu là phương pháp dạy dỗ hoặc quản lý trẻ em trong gia đình và nhà trường.
(1) Bạo lực thể chất
Đây là hình thức bạo hành phổ biến và dễ nhận diện nhất. Hành vi bạo lực thể chất thường tác động trực tiếp đến cơ thể trẻ em, gây đau đớn hoặc thương tích với nhiều mức độ khác nhau. Một số hành vi thường gặp gồm:
- Đánh đập, tát, đá hoặc gây thương tích cho trẻ em;
- Bắt trẻ nhịn ăn, nhịn uống hoặc không bảo đảm nhu cầu sinh hoạt tối thiểu;
- Giam giữ, trói buộc hoặc ép trẻ sống trong điều kiện nguy hiểm;
- Sử dụng vật dụng gây đau đớn hoặc tổn hại đến sức khỏe của trẻ em.
Trong nhiều trường hợp, bạo lực thể chất không chỉ để lại thương tích trước mắt mà còn gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, tâm lý và sự phát triển của trẻ em. Nếu hậu quả nghiêm trọng, người thực hiện hành vi còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
(2) Bạo lực tinh thần
Đây là những hành vi tác động tiêu cực đến tâm lý, cảm xúc và nhân cách của trẻ em trong thời gian dài như:
- Lăng mạ, xúc phạm danh dự hoặc nhân phẩm của trẻ em;
- Thường xuyên chửi bới, đe dọa hoặc gây áp lực tâm lý;
- So sánh, hạ thấp hoặc tạo cảm giác tự ti cho trẻ em;
- Cô lập, xua đuổi hoặc khiến trẻ em sống trong trạng thái sợ hãi kéo dài.

Mặc dù không gây ra thương tích rõ ràng trên cơ thể, nhưng bạo lực tinh thần có thể khiến trẻ em rơi vào trạng thái lo âu, trầm cảm, mất tự tin và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển tâm lý sau này
(3) Bỏ mặc, ngược đãi trẻ em
Đây là trường hợp cha mẹ hoặc người có trách nhiệm chăm sóc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ em hoặc cố ý để trẻ em sống trong điều kiện không an toàn. Các hành vi thường gặp gồm:
- Không cung cấp thức ăn, chăm sóc y tế cần thiết;
- Bỏ mặc trẻ em trong thời gian dài;
- Không bảo đảm điều kiện học tập, sinh hoạt tối thiểu;
- Lợi dụng trẻ em để phục vụ mục đích trục lợi.
Trong nhiều vụ việc, hành vi bỏ mặc trẻ em có thể gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển toàn diện của trẻ.
(4) Các hình thức xâm hại khác
Ngoài các hành vi nêu trên, trẻ em còn có nguy cơ bị xâm hại dưới nhiều hình thức khác như:
- Ép buộc lao động nặng nhọc hoặc lao động trái quy định pháp luật;
- Bóc lột sức lao động của trẻ em;
- Xâm hại tình dục;
- Lợi dụng trẻ em để xin ăn hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
3. Xử phạt hành chính đối với hành vi bạo hành trẻ em
Hiện nay, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bạo hành trẻ em được thực hiện theo các quy định chuyên ngành về bảo vệ trẻ em và bảo trợ xã hội. Từ ngày 16/5/2026, Nghị định 98/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực và thay thế Nghị định 130/2021/NĐ-CP với nhiều quy định chặt chẽ hơn.
(1) Mức xử phạt đối với hành vi bạo lực, ngược đãi trẻ em
Theo Điều 23 Nghị định 98/2026/NĐ-CP, cá nhân có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng khi thực hiện các hành vi:
- Đánh đập, hành hạ trẻ em;
- Lăng mạ, xúc phạm tinh thần;
- Bỏ mặc hoặc cô lập trẻ em;
- Thực hiện các hành vi gây tổn hại đến sức khỏe hoặc tinh thần của trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, một số hành vi lợi dụng trẻ em trên môi trường mạng hoặc đăng tải nội dung mang tính bạo lực, xúc phạm trẻ em nhằm mục đích câu kéo tương tác hoặc trục lợi còn có thể bị xử phạt ở mức cao hơn, lên đến 30.000.000 đồng hoặc 50.000.000 đồng tùy từng trường hợp cụ thể.
(2) Các biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền, người vi phạm còn có thể bị áp dụng nhiều biện pháp khắc phục hậu quả nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em và hạn chế tác động tiêu cực từ hành vi vi phạm. Cụ thể, cơ quan có thẩm quyền có thể buộc người vi phạm:
- Chi trả chi phí khám chữa bệnh cho trẻ em;
- Xin lỗi công khai nếu hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của trẻ em;
- Gỡ bỏ nội dung, hình ảnh vi phạm trên môi trường mạng;
- Nộp lại toàn bộ khoản lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.

Bên cạnh đó, nếu hành vi bạo hành xảy ra trong phạm vi gia đình thì người vi phạm còn có thể bị xử phạt theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP với mức phạt tùy theo tính chất vụ việc.
4. Xử lý hình sự đối với hành vi bạo hành trẻ em
Khi hành vi bạo hành gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có tính chất nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành.

(1) Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình
Theo Điều 185 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, người thường xuyên đối xử tàn nhẫn, làm cho nạn nhân đau đớn về thể chất hoặc tinh thần, hoặc đã từng bị xử phạt hành chính nhưng tiếp tục vi phạm, có thể bị:
- Phạt cảnh cáo;
- Cải tạo không giam giữ đến 03 năm;
- Hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Nếu hành vi được thực hiện đối với người dưới 16 tuổi thì mức hình phạt có thể tăng lên từ 02 năm đến 05 năm tù.
Đây là tội danh thường được áp dụng trong các vụ việc cha mẹ, người thân hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ em thực hiện hành vi bạo lực kéo dài trong thời gian dài.
(2) Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe
Theo Điều 134, người gây thương tích cho trẻ em với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%, hoặc dưới 11% nhưng thuộc trường hợp nạn nhân là trẻ em dưới 16 tuổi, có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trong trường hợp có các tình tiết tăng nặng như
- Dùng hung khí nguy hiểm;
- Có tính chất côn đồ;
- Phạm tội nhiều lần;
- Hoặc gây hậu quả nghiêm trọng,
- thì mức hình phạt có thể tăng lên rất cao tùy tính chất vụ án.
(3) Các tội danh khác liên quan đến bạo hành trẻ em
Tùy từng hành vi cụ thể, người vi phạm còn có thể bị xử lý về các tội danh khác:
- Tội hành hạ người khác (Điều 140);
- Tội giết người (Điều 123);
- Tội vô ý làm chết người (Điều 128);
- Các tội liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em.
Đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân hoặc tử hình theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành.
5. Trách nhiệm của các bên liên quan trong việc bảo vệ trẻ em
(1) Trách nhiệm của cha mẹ và người chăm sóc
Cha mẹ, người giám hộ hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ em có trách nhiệm:
- Bảo đảm an toàn về thể chất và tinh thần cho trẻ em;
- Không thực hiện hành vi bạo lực, ngược đãi hoặc bỏ mặc trẻ em;
- Kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi xâm hại trẻ em
Trong trường hợp người thực hiện hành vi bạo hành là người có trách nhiệm chăm sóc trẻ em thì thường sẽ bị xem xét xử lý nghiêm khắc hơn do vi phạm nghĩa vụ bảo vệ trẻ em theo quy định pháp luật.
(2) Trách nhiệm của giáo viên và cơ sở giáo dục
Điều 51 Luật Trẻ em 2016 quy định cơ sở giáo dục, giáo viên và cá nhân làm việc với trẻ em có trách nhiệm thông báo, tố giác khi phát hiện hành vi xâm hại trẻ em.
Nếu cố tình che giấu, không thông báo hoặc không thực hiện trách nhiệm bảo vệ trẻ em thì cá nhân vi phạm có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.
(3) Trách nhiệm của cơ quan nhà nước và cộng đồng
Các cơ quan như Công an, Tòa án, cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp nhận thông tin, can thiệp và xử lý kịp thời các vụ việc liên quan đến bạo hành trẻ em.
Có thể thấy, pháp luật hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ các cơ chế bảo vệ trẻ em cũng như các chế tài xử lý nghiêm khắc đối với hành vi bạo hành trẻ em. Tùy tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm, người thực hiện hành vi không chỉ bị xử phạt hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt rất nghiêm khắc.
Bài viết trên được Văn phòng Luật sư Đà Nẵng tổng hợp và phân tích dựa trên các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến bảo vệ trẻ em, xử phạt vi phạm hành chính và xử lý hình sự đối với hành vi bạo hành trẻ em theo Luật Trẻ em 2016, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 cùng các nghị định xử phạt liên quan.
Qua đó, bài viết nhằm cung cấp góc nhìn tổng quan và những lưu ý pháp lý quan trọng giúp cá nhân, gia đình, cơ sở giáo dục và các tổ chức có liên quan hiểu rõ hơn về trách nhiệm bảo vệ trẻ em, đồng thời chủ động phòng ngừa các hành vi xâm hại, bạo lực trẻ em trong thực tế.
Trong trường hợp Quý khách còn vướng mắc hoặc cần được tư vấn cụ thể liên quan đến hành vi xâm hại trẻ em, thủ tục tố giác, yêu cầu xử lý hành vi bạo hành trẻ em hoặc các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc, Quý khách có thể liên hệ Văn phòng Luật sư Đà Nẵng qua số điện thoại 0912 987 103 hoặc đặt lịch làm việc trực tiếp tại 24 Phan Bội Châu, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để được hỗ trợ kịp thời, chính xác và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Ngoài ra, Văn phòng Luật sư Đà Nẵng cung cấp các dịch vụ pháp lý liên quan trong lĩnh vực hình sự dưới đây:
- Tư vấn các quy định pháp luật về hình sự;
- Hỗ trợ tham gia vào các giai đoạn tố tụng của vụ án (điều tra, truy tố, xét xử);
- Hỗ trợ soạn thảo đơn tố giác, đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các văn bản pháp lý khác phục vụ cho quá trình tố tụng;
- Hỗ trợ và/hoặc hướng dẫn thu thập tài liệu, chứng cứ, các tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự;
……..
Xem thêm: XỬ LÝ BẠO LỰC GIA ĐÌNH THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 2024