QUYỀN CỦA BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ – PHÂN TÍCH 7 ĐIỂM NỔI BẬT THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Trong tố tụng hình sự, bị hại không chỉ là người chịu thiệt hại từ hành vi phạm tội mà còn là một chủ thể có vị trí pháp lý độc lập, được pháp luật bảo đảm nhiều quyền quan trọng trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Trên cơ sở Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật Hình sự (BLHS) và Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), các quy định liên quan đến quyền của bị hại đã có nhiều điểm hoàn thiện theo hướng:
- Tăng cường tính minh bạch trong tố tụng;
- Mở rộng khả năng tham gia của bị hại;
- Bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp trên thực tế.
Qua bài viết này, Văn phòng Luật sư Đà Nẵng sẽ phân tích cụ thể các căn cứ pháp lý hiện hành liên quan đến quyền của bị hại trong vụ án hình sự, đồng thời làm rõ nội dung, phạm vi áp dụng của từng quyền theo quy định mới.
1. Quyền của bị hại được thông báo đầy đủ, kịp thời về tiến trình vụ án
Quyền được thông báo về tiến trình giải quyết vụ án là một trong những quyền cơ bản và xuyên suốt của bị hại trong tố tụng hình sự.
Theo Khoản 2 Điều 62 Bộ luật TTHS 2015, bị hại có quyền được cơ quan tiến hành tố tụng thông báo đầy đủ, kịp thời về các nội dung quan trọng. Việc bảo đảm quyền được thông tin giúp bị hại theo dõi sát quá trình xử lý vụ án, đồng thời chủ động thực hiện các quyền tố tụng liên quan.

Đáng chú ý, khoản 16, 17 Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi BLTTHS 2025 đã mở rộng hình thức thông báo đã được mở rộng theo hướng hiện đại hóa. Cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng có thể thực hiện việc thông báo thông qua:
- Cổng thông tin điện tử;
- Ứng dụng số;
- Kết nối với Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Bên cạnh đó, theo quy định sửa đổi tại Điều 131 BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung bởi Khoản 13 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15, hồ sơ vụ án được thực hiện số hóa, tạo điều kiện để bị hại có thể tiếp cận, tra cứu thông tin vụ án một cách thuận tiện hơn.
Việc áp dụng công nghệ trong tố tụng không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, công khai trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự.
2. Quyền của bị hại được cung cấp chứng cứ, yêu cầu giám định và định giá tài sản
Trong tố tụng hình sự, bị hại không chỉ là người cung cấp thông tin ban đầu mà còn là chủ thể có quyền chủ động tham gia vào quá trình chứng minh thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Theo điểm b, c, d khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị hại có quyền:
- Cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án;
- Trình bày ý kiến về các chứng cứ đã được thu thập;
- Đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá lại chứng cứ khi cần thiết.

Đây là cơ sở quan trọng để bị hại trực tiếp tham gia vào việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án, đặc biệt trong các trường hợp có tranh chấp về thiệt hại hoặc mức độ hậu quả.
Bên cạnh đó, pháp luật còn ghi nhận quyền yêu cầu thực hiện các hoạt động chuyên môn nhằm xác định chính xác thiệt hại. Cụ thể:
- Điều 207, bị hại có quyền đề nghị trưng cầu giám định để xác định các vấn đề chuyên môn như thương tích, nguyên nhân thiệt hại hoặc mức độ tổn hại;
- Theo Điều 214, bị hại có quyền yêu cầu định giá tài sản trong trường hợp thiệt hại liên quan đến tài sản.
Việc giám định và định giá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì đây là căn cứ trực tiếp để:
- Xác định yếu tố cấu thành tội phạm;
- Đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi;
- Làm cơ sở giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Đặc biệt, theo các quy định sửa đổi, bổ sung của pháp luật hiện hành, quyền tiếp cận hồ sơ của bị hại cũng được mở rộng theo hướng minh bạch hơn. Cụ thể, thông qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bị hại có thể đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Quy định này giúp bị hại nắm bắt đầy đủ nội dung vụ án, đối chiếu với các chứng cứ đã thu thập, từ đó có cơ sở đưa ra yêu cầu hoặc ý kiến phù hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách hiệu quả hơn.
3. Quyền của bị hại được yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị mức hình phạt
Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại là một trong những quyền quan trọng nhất của bị hại, gắn trực tiếp với việc khắc phục hậu quả thực tế do hành vi phạm tội gây ra.
Theo điểm g khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015, bị hại có quyền yêu cầu:
- Bồi thường thiệt hại về vật chất;
- Bồi thường tổn thất về tinh thần;
- Xác định trách nhiệm dân sự của người phạm tội trong cùng vụ án hình sự.

Quyền này đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với quy định của Bộ luật Hình sự, theo đó người phạm tội có nghĩa vụ khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại như một trong những trách nhiệm pháp lý phát sinh từ hành vi phạm tội.
Bên cạnh đó, bị hại còn có quyền trình bày ý kiến, đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo. Đây là cơ sở để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét toàn diện:
- Tính chất, mức độ hành vi phạm tội;
- Hậu quả thực tế đã gây ra;
- Yêu cầu chính đáng của người bị thiệt hại.
Về mặt tố tụng, Điều 31 BLTTHS quy định nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại, trong khi Điều 260 yêu cầu bản án, quyết định của Tòa án phải ghi rõ:
- Mức bồi thường;
- Nghĩa vụ thi hành của người phạm tội;
Đáng chú ý, theo các quy định mới, cơ quan tiến hành tố tụng và Tòa án có trách nhiệm xem xét áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ bồi thường ngay từ giai đoạn điều tra. Các biện pháp này có thể bao gồm:
- Phong tỏa tài khoản;
- Kê biên tài sản;
- Ngăn chặn việc tẩu tán tài sản;
Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm không chỉ giúp nâng cao khả năng thi hành án trên thực tế mà còn hạn chế tình trạng bản án tuyên có bồi thường nhưng không thể thực hiện trên thực tiễn.
4. Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm
Trong quá trình tố tụng, bị hại có quyền được bảo vệ khi có căn cứ cho rằng mình bị đe dọa hoặc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự.
Theo điểm l khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị hại có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đối với các trường hợp đặc thù như trẻ em hoặc nạn nhân mua bán người, pháp luật còn quy định cơ chế hỗ trợ toàn diện theo Luật Phòng, chống mua bán người 2024, bao gồm hỗ trợ y tế, tâm lý, học nghề và tái hòa nhập cộng đồng (Điều 46, Điều 53).
Những quy định này góp phần bảo đảm an toàn thực tế và ổn định cuộc sống cho bị hại trong và sau quá trình tố tụng.
5. Quyền nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Bị hại có thể tự mình bảo vệ quyền lợi hoặc nhờ người có chuyên môn như luật sư hoặc trợ giúp viên pháp lý. Theo Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bảo vệ có thể tham gia vào quá trình tố tụng, tiếp cận hồ sơ, đưa ra ý kiến và hỗ trợ bị hại trong việc bảo vệ quyền lợi.

Điều 16 cũng khẳng định nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Việc có người bảo vệ giúp bị hại hạn chế rủi ro pháp lý và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi trong các vụ án phức tạp.
6. Quyền tham gia phiên tòa và kháng cáo
Bị hại có quyền tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến và tham gia tranh luận nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.
Theo khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị hại còn có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi theo Điều 331. Quy định này cho phép bị hại yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại nội dung bản án nếu cho rằng quyền lợi của mình chưa được bảo đảm.
Đây là cơ chế quan trọng để bảo đảm tính công bằng và khách quan trong xét xử.
7. Quyền được hỗ trợ trong các trường hợp đặc biệt
Bên cạnh các quyền chung trong tố tụng hình sự, pháp luật hiện hành còn quy định cơ chế bảo vệ và hỗ trợ riêng đối với một số nhóm bị hại có tính chất dễ bị tổn thương, nhằm bảo đảm quyền lợi một cách toàn diện hơn.

(1) Đối với bị hại là trẻ em
Trẻ em khi tham gia tố tụng hình sự được áp dụng cơ chế bảo vệ riêng theo Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026).
Theo đó, việc giải quyết vụ án phải bảo đảm môi trường thân thiện, phù hợp với tâm lý lứa tuổi, bao gồm:
- Hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp với bị cáo;
- Có sự tham gia của người đại diện, người hỗ trợ;
- Bảo đảm quyền riêng tư và ổn định tâm lý.
Những quy định này nhằm tránh gây tổn thương thêm cho trẻ em trong quá trình tố tụng.
(2) Đối với nạn nhân của tội phạm mua bán người
Theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người 2024, nạn nhân được hưởng các chính sách hỗ trợ toàn diện theo Điều 46, bao gồm:
- Hỗ trợ y tế và chăm sóc sức khỏe;
- Hỗ trợ tâm lý;
- Hỗ trợ học nghề và tìm kiếm việc làm.
Các chính sách này không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ trong tố tụng mà còn hướng đến phục hồi lâu dài cho nạn nhân.
Đối với người bị oan sai
Đối với trường hợp bị kết án oan, pháp luật bảo đảm quyền được bồi thường và phục hồi danh dự theo quy định tại Điều 31 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Người bị oan có quyền:
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần;
- Được xin lỗi công khai;
- Được phục hồi danh dự và các quyền lợi hợp pháp khác.
Đây là cơ chế quan trọng nhằm khắc phục hậu quả do hoạt động tố tụng gây ra, đồng thời bảo đảm công bằng và niềm tin vào hệ thống pháp luật.
* Bảng tổng hợp quyền của bị hại trong tố tụng hình sự:
| STT | Quyền của bị hại | Nội dung chính | Căn cứ pháp lý |
|---|---|---|---|
| 1 | Được thông báo về vụ án | Được thông tin đầy đủ, kịp thời về tiến trình giải quyết vụ án, có thể tiếp cận qua nền tảng số | Khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015; Luật 99/2025/QH15 |
| 2 | Cung cấp chứng cứ, yêu cầu giám định | Được cung cấp tài liệu, đề nghị giám định, định giá tài sản, tham gia làm rõ sự thật vụ án | Điểm b, c, d Khoản 2 Điều 62; Điều 207, 214 BLTTHS |
| 3 | Yêu cầu bồi thường thiệt hại | Yêu cầu bồi thường vật chất, tinh thần và xác định trách nhiệm dân sự trong vụ án | Điểm g Khoản 2 Điều 62; Điều 31, 260 BLTTHS |
| 4 | Được bảo vệ an toàn | Yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự khi bị đe dọa | Điểm l Khoản 2 Điều 62 BLTTHS |
| 5 | Nhờ người bảo vệ quyền lợi | Có thể mời luật sư hoặc người bảo vệ tham gia tố tụng, hỗ trợ pháp lý | Điều 16, Điều 84 BLTTHS |
| 6 | Tham gia phiên tòa, kháng cáo | Trình bày ý kiến, tranh luận và kháng cáo bản án liên quan quyền lợi | Khoản 2 Điều 62; Điều 331 BLTTHS |
| 7 | Được hỗ trợ trong trường hợp đặc biệt | Được bảo vệ, hỗ trợ riêng nếu là trẻ em, nạn nhân mua bán người hoặc bị oan | Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024; Luật Phòng, chống mua bán người 2024 |
Có thể thấy, hệ thống pháp luật hình sự và tố tụng hình sự hiện hành đã từng bước hoàn thiện theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Bị hại không còn chỉ là người chịu thiệt hại mà đã trở thành một chủ thể có vị trí pháp lý độc lập, có quyền chủ động tham gia vào toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, từ giai đoạn điều tra đến xét xử và thi hành án.
Các quy định pháp luật hiện hành đã chú trọng hơn đến tính minh bạch, khả năng tiếp cận thông tin và cơ chế bảo đảm thực thi quyền trên thực tế, nhất là đối với các nhóm bị hại yếu thế hoặc có hoàn cảnh đặc thù.Việc hiểu rõ và vận dụng đúng các quyền này không chỉ giúp bị hại bảo vệ tốt hơn lợi ích hợp pháp của mình mà còn góp phần bảo đảm tính công bằng, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Trên đây là nội dung được tổng hợp và phân tích từ các quy định pháp luật hiện hành bởi Văn phòng Luật sư Đà Nẵng, nhằm cung cấp thông tin tham khảo và giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền của bị hại trong tố tụng hình sự.
Trong trường hợp Quý khách còn vướng mắc hoặc cần được tư vấn cụ thể liên quan đến các vấn đề pháp luật hình sự, vui lòng liên hệ Văn phòng Luật sư Đà Nẵng qua số điện thoại 0912 987 103 hoặc đặt lịch làm việc trực tiếp tại 24 Phan Bội Châu, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để được luật sư hỗ trợ và tư vấn chi tiết.
Ngoài ra, Văn phòng Luật sư Đà Nẵng cung cấp các dịch vụ pháp lý liên quan trong lĩnh vực hình sự dưới đây:
- Tư vấn các quy định pháp luật về hình sự;
- Hỗ trợ tham gia vào các giai đoạn tố tụng của vụ án (điều tra, truy tố, xét xử);
- Hỗ trợ soạn thảo đơn tố giác, đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các văn bản pháp lý khác phục vụ cho quá trình tố tụng;
- Hỗ trợ và/hoặc hướng dẫn thu thập tài liệu, chứng cứ, các tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự.
…………..
Xem thêm: QUYỀN IM LẶNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ: NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI CÓ ĐƯỢC GIỮ IM LẶNG KHÔNG?
Xem thêm: CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015