TÁI CHẾ BAO BÌ THEO CƠ CHẾ EPR: HƯỚNG DẪN CHI TIẾT VÀ NHỮNG LƯU Ý MÀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT THEO NGHỊ ĐỊNH 110/2026/NĐ-CP

TÁI CHẾ BAO BÌ THEO CƠ CHẾ EPR: HƯỚNG DẪN CHI TIẾT VÀ NHỮNG LƯU Ý MÀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT THEO NGHỊ ĐỊNH 110/2026/NĐ-CP

TÁI CHẾ BAO BÌ THEO CƠ CHẾ EPR: HƯỚNG DẪN CHI TIẾT VÀ NHỮNG LƯU Ý MÀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT THEO NGHỊ ĐỊNH 110/2026/NĐ-CP
TÁI CHẾ BAO BÌ THEO CƠ CHẾ EPR: HƯỚNG DẪN CHI TIẾT VÀ NHỮNG LƯU Ý MÀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT THEO NGHỊ ĐỊNH 110/2026/NĐ-CP

Trong bối cảnh các yêu cầu về bảo vệ môi trường ngày càng được siết chặt, trách nhiệm của doanh nghiệp không còn dừng lại ở khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mà còn kéo dài đến cả giai đoạn sau sử dụng. Cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất đang trở thành một trong những công cụ pháp lý quan trọng, buộc doanh nghiệp phải chủ động tham gia vào quá trình thu gom, tái chế và xử lý chất thải.

Đặc biệt, với việc ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP, các quy định về tái chế bao bì đã được cụ thể hóa, tạo ra khung pháp lý rõ ràng hơn nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới mà doanh nghiệp cần lưu ý trong quá trình tuân thủ.

Qua bài viết dưới đây, Văn phòng Luật sư tại Đà Nẵng sẽ tổng hợp và phân tích một cách toàn diện các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến trách nhiệm tái chế bao bì theo cơ chế EPR, giúp doanh nghiệp hiểu đúng, làm đúng và hạn chế tối đa các rủi ro pháp lý trong quá trình hoạt động.

1. EPR được hiểu như thế nào?

EPR (Extended Producer Responsibility)  là cơ chế yêu cầu nhà sản xuất và nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm, bao bì của mình sau khi được đưa ra thị trường. Trách nhiệm này không chỉ dừng lại ở việc bán hàng, mà còn kéo dài đến giai đoạn sau tiêu dùng.

Hiểu đúng về cơ chế EPR
Hiểu đúng về cơ chế EPR

Cụ thể, doanh nghiệp phải tham gia vào các hoạt động liên quan đến thu gom, tái chế hoặc xử lý chất thải phát sinh từ chính sản phẩm, bao bì của mình.

Như vậy, khi đã đưa hàng hóa ra thị trường, doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm với vòng đời của sản phẩm đó, thay vì để toàn bộ gánh nặng cho xã hội hoặc Nhà nước.

Về cơ sở pháp lý, cơ chế EPR hiện được quy định tại:

Đây là những quy định mang tính bắt buộc, doanh nghiệp cần nắm rõ để tránh rủi ro pháp lý trong quá trình hoạt động.

2. Nghị định 110/2026/NĐ-CP về quy định về tái chế bao bì theo EPR

Nghị định 110/2026/NĐ-CP có hiệu Lực 25/5/2026, là văn bản quan trọng, quy định chi tiết cách thức thực hiện trách nhiệm tái chế bao bì theo cơ chế EPR trên thực tế.

Nghị định này đã cụ thể hóa từng nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện, từ khâu xác định đối tượng đến cách thức triển khai và báo cáo. So với các quy định trước đây, nội dung của nghị định có tính rõ ràng và khả thi cao hơn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn về mức độ tuân thủ.

Quy định về tái chế bao bì hiện hành
Quy định về tái chế bao bì hiện hành

Về nội dung quy định, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý:

  • Xác định cụ thể đối tượng phải thực hiện trách nhiệm tái chế, dựa trên loại sản phẩm và bao bì đưa ra thị trường;
  • Quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc theo từng nhóm vật liệu, làm căn cứ để doanh nghiệp tính toán nghĩa vụ;
  • Đặt ra yêu cầu về quy cách tái chế, nhằm đảm bảo việc tái chế thực sự có hiệu quả về môi trường;
  • Hướng dẫn các hình thức thực hiện nghĩa vụ, cho phép doanh nghiệp lựa chọn giữa tự tái chế hoặc đóng góp tài chính;
  • Quy định trình tự đăng ký kế hoạch và báo cáo kết quả thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia;
  • Làm rõ các trường hợp được miễn trừ, giúp doanh nghiệp xác định chính xác phạm vi nghĩa vụ của mình.

Theo Điều 24 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, các quy định này được áp dụng từ năm 2026. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động rà soát hoạt động sản xuất, kinh doanh và xây dựng phương án tuân thủ phù hợp ngay từ sớm, tránh tình trạng bị động khi quy định đã đi vào áp dụng trên thực tế.

3. Đối tượng phải thực hiện trách nhiệm tái chế bao bì

Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, trách nhiệm tái chế bao bì được đặt ra đối với nhà sản xuất và nhà nhập khẩu khi đưa sản phẩm này (thuộc danh mục quy định tại Phụ lục I) ra thị trường Việt Nam.

Quy định này thể hiện nguyên tắc xuyên suốt của cơ chế EPR: chủ thể đưa sản phẩm ra thị trường phải có trách nhiệm đối với chất thải phát sinh từ chính sản phẩm đó.

Trên thực tế, các nhóm bao bì phải thực hiện nghĩa vụ tái chế chủ yếu là những nhóm có khối lượng tiêu thụ lớn, phát sinh nhiều chất thải trong sinh hoạt và sản xuất, bao gồm:

  • Bao bì thực phẩm, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định pháp luật chuyên ngành;
  • Bao bì mỹ phẩm;
  • Bao bì thuốc;
  • Bao bì phân bón, thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y;
  • Bao bì sản phẩm tẩy rửa, vệ sinh dùng trong sinh hoạt, nông nghiệp và y tế;
  • Bao bì xi măng.

Tái chế bao bì

Đây là những nhóm bao bì có tần suất sử dụng cao, thời gian tồn tại trong môi trường dài và gây áp lực lớn đến hệ thống thu gom, xử lý chất thải nếu không được kiểm soát hiệu quả.

Bên cạnh việc xác định loại sản phẩm, doanh nghiệp cũng cần đặc biệt lưu ý quy định về chủ thể chịu trách nhiệm trong một số trường hợp đặc thù theo khoản 2 Điều 4. Cụ thể:

  • Trường hợp một sản phẩm có nhiều đơn vị cùng tham gia sản xuất dưới cùng một nhãn hiệu thì trách nhiệm tái chế thuộc về đơn vị đứng tên nhãn hàng hóa trên thị trường;
  • Trường hợp sản xuất theo hình thức gia công thì bên đặt gia công là chủ thể phải thực hiện trách nhiệm tái chế;
  • Trường hợp nhập khẩu theo hình thức ủy thác thì trách nhiệm thuộc về đơn vị đứng tên nhãn hàng hóa khi lưu thông trên thị trường;

Các quy định này nhằm tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các bên liên quan, đồng thời xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm pháp lý. 

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần lưu ý lộ trình mở rộng phạm vi áp dụng. Cụ thể, từ ngày 01/01/2027, trách nhiệm tái chế sẽ được áp dụng thêm đối với phương tiện giao thông đường bộ do nhà sản xuất, nhập khẩu đưa ra thị trường. Điều này cho thấy xu hướng ngày càng mở rộng phạm vi điều chỉnh của cơ chế EPR, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động theo dõi và cập nhật kịp thời các quy định mới.

4. Các trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế

Không phải mọi doanh nghiệp đều bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ tái chế bao bì. Khoản 3 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP đã quy định rõ các trường hợp được miễn trừ, bao gồm:

  • Sản phẩm, bao bì được sản xuất hoặc nhập khẩu chỉ để xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, hoặc phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm;
  • Doanh nghiệp có tổng doanh thu từ các sản phẩm, bao bì thuộc danh mục dưới 30 tỷ đồng mỗi năm;
  • Doanh nghiệp đã chủ động thu hồi và tái sử dụng bao bì của chính mình với tỷ lệ đạt hoặc vượt mức tái chế bắt buộc.

Việc xác định đúng mình có thuộc diện miễn trừ hay không là rất quan trọng, giúp doanh nghiệp tránh thực hiện nghĩa vụ không cần thiết hoặc ngược lại là vi phạm do hiểu sai quy định.

5. Tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc

Tỷ lệ tái chế bắt buộc là mức tối thiểu doanh nghiệp phải đạt được, tính theo khối lượng bao bì đã đưa ra thị trường trong năm. Các tỷ lệ cụ thể được quy định tại Phụ lục I của Nghị định 110/2026/NĐ-CP.

Một số điểm doanh nghiệp cần lưu ý:

  • Tỷ lệ này sẽ được điều chỉnh định kỳ 3 năm/lần;
  • Mức điều chỉnh mỗi lần không vượt quá 10%;
  • Lần điều chỉnh đầu tiên dự kiến vào năm 2029 (theo Điều 5).
Tỷ lệ và quy cách tái chế bao bì
Tỷ lệ và quy cách tái chế bao bì

Bên cạnh tỷ lệ, quy cách tái chế cũng là yếu tố bắt buộc. Doanh nghiệp không chỉ cần đạt đủ khối lượng tái chế mà còn phải thực hiện đúng phương pháp tái chế phù hợp với từng loại vật liệu.

Lưu ý: Khối lượng tái chế có thể cộng dồn cho các sản phẩm cùng nhóm; phần vượt tỷ lệ được bảo lưu sang năm sau.

6. Các cách thức thực hiện trách nhiệm tái chế

Pháp luật cho phép doanh nghiệp lựa chọn nhiều phương thức khác nhau để thực hiện nghĩa vụ, tùy theo năng lực và điều kiện thực tế.

Theo khoản 2 Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Điều 6 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, các hình thức bao gồm:

  • Tự tổ chức thu gom và tái chế;
  • Thu hồi bao bì đã qua sử dụng để làm nguyên liệu sản xuất;
  • Ký hợp đồng với đơn vị tái chế có giấy phép môi trường;
  • Ủy quyền cho tổ chức trung gian thực hiện.

Trường hợp doanh nghiệp không trực tiếp thực hiện tái chế, bắt buộc phải đóng góp tài chính. Mức đóng góp được xác định theo công thức: F = R × V × Fs

Trong đó:

F: Tổng số tiền mà nhà sản xuất, nhập khẩu phải đóng góp theo từng sản phẩm, bao bì (đơn vị tính: đồng);

R: Tỷ lệ tái chế bắt buộc của từng nhóm sản phẩm, bao bì quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này (đơn vị tính: %);

V: Khối lượng sản phẩm, bao bì sản xuất, nhập khẩu được đưa ra thị trường trong năm có trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì (đơn vị tính: Kg);

Fs: Mức đóng góp tài chính đối với một đơn vị khối lượng sản phẩm, bao bì (đơn vị tính: Đồng/kg).

Tái chế bao bì

(Căn cứ tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định này).

Khoản tiền này được nộp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam và sử dụng cho các hoạt động tái chế trên phạm vi cả nước.

7. Nghĩa vụ đăng ký kế hoạch và báo cáo

Theo Điều 7 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai hằng năm. Cụ thể:

  • Trước ngày 01/4 đăng ký kế hoạch tái chế cho năm hiện tại;
  • Đồng thời báo cáo kết quả thực hiện của năm trước.

Việc kê khai được thực hiện thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia. Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý tính chính xác của số liệu, vì sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm pháp lý đối với nội dung đã kê khai.

Từ các quy định nêu trên có thể thấy, trách nhiệm tái chế bao bì theo cơ chế EPR không còn là lựa chọn mà đã trở thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với nhiều doanh nghiệp kể từ khi Nghị định 110/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Việc tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định không chỉ giúp doanh nghiệp tránh các rủi ro xử phạt, mà còn góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn.

Bài viết này được Văn phòng Luật sư tại Đà Nẵng tổng hợp và phân tích từ các quy định pháp luật hiện hành nhằm giúp doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện hơn về trách nhiệm tái chế bao bì theo cơ chế EPR theo quy định mới nhất năm 2026.

Trong trường hợp còn vướng mắc hoặc cần được tư vấn cụ thể về nghĩa vụ EPR, thủ tục đăng ký, kê khai hoặc xây dựng phương án tuân thủ phù hợp, Quý khách vui lòng liên hệ Văn phòng Luật sư tại Đà Nẵng qua số điện thoại 0912 987 103 hoặc đặt lịch làm việc trực tiếp tại 24 Phan Bội Châu, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để được luật sư hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.

Ngoài ra, đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý của chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ Quý khách trong các dịch vụ liên quan tới doanh nghiệp – đầu tư dưới đây:

  • Tư vấn thay đổi tên doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, vốn điều lệ…;
  • Hỗ trợ soạn thảo hồ sơ thông báo thay đổi giấy phép kinh doanh;
  • Hỗ trợ doanh nghiệp nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền;
  • Tư vấn các thủ tục sau khi thay đổi;
  • Tư vấn thường xuyên các hoạt động doanh nghiệp;

…….

Xem thêm: THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP ESG NĂM 2026: CÁC BƯỚC XÂY DỰNG DOANH NGHIỆP XANH NGAY TỪ ĐẦU ĐỂ THU HÚT VỐN ƯU ĐÃI.

Luật sư đà nẵng

Văn phòng luật sư Đà Nẵng với đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm trong việc tư vấn và thực hiện các thủ tục cho doanh nghiệp, đại diện và tham gia giải quyết các tranh chấp liên quan trong các lĩnh vực như đất đai, lao động…

nhắn tin facebook
nhắn tin facebook
icon zalo
icon zalo
icon zalo
nhắn tin facebook
0912 987 103 gọi điện thoại
Scroll to Top